Tác hại và biểu hiện của bệnh giun đũa

Tác hại

  1. Tước đoạt chất dinh dưỡng

Nhiễm giun có thể góp phần làm suy giảm protein. Theo sự tính toán trong một nghiên cứu thực nghiệm ở người thì ở trẻ em bị nhiễm từ 13-40 giun bị mất khoảng 4g protein mỗi ngày đối với một bữa ăn có từ 35-40g protein. Suy dinh dưỡng dạng khô cũng được gắn với nhiễm giun đũa. Nhiễm giun đũa có thể góp phần làm giảm lượng sinh tố A, sinh tố C. Trẻ em bị quáng gà hồi phục rất nhanh các triệu chứng ở mắt sau khi được tẩy giun.

Bội nhiễm vi trùng

Giun di chuyễn có thể kéo theo vi sinh từ ruột ra các nơi khác và có giả thuyết là giữa nhiễm giun đũa và bệnh bại liệt có liên quan đến nhau.

  1. Miễn dịch bệnh lý

Nhiều người bị nhiễm giun đũa có sự nhảy cảm với kháng nguyên của giun đũa và khi phòng thí nghiệm nơi đang mổ giun cũng đủ bị viêm kết mạc, nổi mề đay và lên cơn hen. Da của những bệnh nhân này cực kỳ nhạy cảm với kháng nguyên của giun đũa ở những liều cực nhỏ, họ bị ngay phản ứng phản vệ tức thời, thường những biểu hiện bằng nổi ngứa và có những sang thương màu hồng. Sự di chuyển của giun trưởng thành ở những người nhạy cảm có thể làm cho hậu môn ngứa dữ dội, nôn ói ra giun và phù nề thanh môn.

Triệu chứng lâm sàng

Đa số các trường hợp nhiễm giun đũa thường không có biểu hiện lâm sàng, nhiễm nhẹ thường không có triệu chứng nhưng đôi khi nhiễm một con duy nhất cũng có thể gây áp-xe gan hay làm tắt ống dẫn mật. Triệu chứng cấp tính tương ứng với số lượng giun đũa bị nhiễm và triệu chứng nặng có thể xảy ra khi số lượng giun lên tới hàng trăm con.

Mặc dù tái nhiễm có thể xảy ra suốt đời nhưng có thể tham gia làm giảm được những trường hợp bị nhiễm nặng nếu có được miễn dịch hoặc giảm bớt phơi nhiễm.

Thời kỳ ủ bệnh

Thời kỳ ủ bệnh bắt đầu từ lúc trứng được nuốt vào cơ thể cho đến khi trứng bắt đầu xuất hiện trong phân là 60-70 ngày. Triệu chứng ở phổi do ấu trùng di chuyển sẽ xuất hiện vào ngày 4-16 sau khi bị nhiễm.

Bệnh do ấu trùng giun đũa

Viêm phổi do ấu trùng giun đũa: trong quá trình di chuyển ấu trùng gây ra viêm phổi vào ngày thứ 4-16 sau khi được nuốt vào, triệu chứng gồm có sốt, ho, ho có đàm, thâm nhiễm ở phổi. Bạch cầu toan tính (BCTT) tăng cao và có thể tìm thấy ấu trùng trong đàm hoặc trong dịch tá tràng. Viêm phổi không kéo dài, chỉ khoảng 3 tuần (ngược lại với tăng BCTT trong bệnh phổi nhiệt đới kéo dài tới nhiều tháng). Triệu chứng có thể là hen suyễn và gan có thể bị tổn thương, lớn nhưng mềm.

Trong quá trình chu du, ấu trùng có thể gây triệu chứng: rối loạn thận kinh (co giật, kích thích màng não và động kinh,…), phù mí mắt hoặc mất ngủ và nghiến răng ban đêm. Khi ấu trùng đi lạc lên não, nó gây ra u hạt, những nốt nhỏ ở mắt, võng mạc hoặc não.

Bệnh do giun đũa trưởng thành

Tại ruột: thường gặp triệu chứng rối loạn tiêu hóa, viêm ruột già và nôn ói. Nếu nhiễm nặng, biểu hiện chủ yếu là tắt ruột, thường xảy ra ở trẻ em, có trường hợp bắt được 100 giun đũa ở một bệnh nhân.

Ngoài ruột: do giun di chuyển lạc chỗ: giun trưởng thành có khuynh hướng di chuyển khi môi trường sống của nó bị xáo trộn. Bệnh nhân dùng thuốc tetrachloroethylen, bị gây mê hoặc bị sốt, chúng di chuyển và đi lạc vào ống dẫn mật, bóng Vater, ruột thừa, xung quanh hậu môn và ống eustache. Chúng có thể gây xoắn ruột và hoại tử ruột, thủng ruột và viêm phúc mạc, viêm tụy cấp, viêm ống mật có mủ, áp-xe gan, viêm túi mật cấp và vàng da do tắc mật.

Phòng bệnh

Phòng bệnh dựa trên việc vệ sinh cá nhân, xử lý phân hợp vệ sinh, giáo dục sức khỏe và điều trị những người bị nhiễm.

KTV. Khương Vy

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ