Giun sán – giun móc từ động vật sang người

Trong thời gian gần đây bệnh truyền từ động vật sang người đang là một mối lo ngại cho sức khỏe cộng đồng. Các trận đại dịch gần đây như dịch Covid 19, SARS, MERS đều có chung một đặc điểm là bệnh lây từ động vật sang người.

Giun sán – giun móc từ động vật sang người

Bệnh giun sán, giun móc ở người thường được gây ra bởi hai loài Necator americanus và Ancylostoma duodenale. Tuy nhiên trong thời gian gần đây A. ceylanicum, một loài giun móc gây bệnh chủ yếu trên chó mèo, đang trở thành nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây bệnh giun sán giun móc trên người, đặc biệt ở vùng Đông Nam Á. Hai loài giun móc đã được xác định, một loài trên người và một loài ảnh hưởng đến người, chó và mèo. Chúng tôi báo cáo một trường hợp một du khách nam người Pháp vừa đi du lịch Myanmar về bị nhiễm giun móc A.ceylanicum.

Báo cáo ca bệnh nhiễm giun sán, giun móc từ động vật sang người

Vào tháng 12 năm 2014, một người đàn ông 33 tuổi không có tiền căn bệnh lý đến khám vì sốt 3 tuần, nôn ói, khó thở, đi tiêu ra máu, và sụt 7 kg. Trước đó 1 tháng ông ta có đi du lịch Myanmar 3 tuần. Sau khi đến Myanmar 2 ngày, ông này có bị ngứa và nổi ban đỏ vùng mông sau khi ông ta mặc quần ngắn, ngồi trong một công viên ở Rangoon. Ngoài nổi ban, ông ta còn bị ho khan.

Kết quả xét nghiệm cho thấy tăng bạch cầu 17.43 × 109, tăng esosin máu 55%, và hồng cầu 56,1%. Soi phân trực tiếp thấy nhiều tinh thể Charcot-Leyden và 150-200 trứng giun móc/gam phân (hình A). Tinh thể Charco-Leyden được hình thành từ những mảnh vỡ của bạch cầu ái toan, thường được tìm thấy trong phân hay đàm của những bệnh nhân nhiễm giun sán kí sinh trùng, đó là những tinh thể hình trụ, nhọn hai đầu, bắt màu đỏ tím khi nhuộm bằng trichrome. Trứng giun móc có kích thước trung bình khoảng 57.6 × 38.4 µm. Ngoài ra, ấu trùng giun móc cũng được phân lập từ phân của bệnh nhân (hình B). Dựa trên những bằng chứng bệnh sử và lâm sàng nghĩ nhiều là viêm ruột tăng bạch cầu ái toan, nhưng bệnh này thường hiếm gặp nếu bệnh nhân nhiễm giun sán kí sinh trùng của người, vì vậy người ta nghĩ rằng bệnh nhân này nhiễm một loài giun sán, giun móc lây truyền từ động vật sang người.

Để xác định chủng giun móc, DNA được chiết xuất từ ấu trùng giun móc bằng bộ kit DNeasy Tissue (QIAGEN, Hilden, Đức) và được chạy kỹ thuật DNA đặc hiệu để định danh giun móc tại khoa Khoa học Thú Y và Nông nghiệp của đại học Melbourne (Parkville, Victoria, Úc). Đại học Melbourne được chọn vì là nơi có kỹ thuật chuyên môn để định danh giun móc. Ngoài ra, kỹ thuật PCR còn được dùng để định danh cho gen oxy hóa cytochrome trong ti thể. Kỹ thuật PCR nhân đôi hai chiều sản phẩm DNA (Macrogen Inc., Seoul, Hàn Quốc) được phân tích bằng Finch TV 1.4.0 (Geospiza Inc., Seattle, WA, Hoa Kỳ). Kết quả cho thấy phân đoạn trùng khớp 100% đối với A. ceylanicum khi so sánh mẫu này với mẫu đối chứng trong ngân hàng gen GenBank (DQ381541). Kỹ thuật nối đoạn với MEGA 4.1 A. ceylanicum cho thấy haplotype đặc hiệu cho động vật và người.

Điều trị ca bệnh nhiễm giun sán – giun móc từ động vật sang người

Sau 3 ngày dùng Albendazole (400 mg/d), tình trạng lâm sàng cải thiện, mẫu phân âm tính với trứng giun móc. Tuy nhiên, bạch cầu ái toan vẫn còn tăng (59%). Ba tháng sau, bệnh nhân lại nhập viện vì tiêu chảy và đau bụng. Tinh thể Charcot-Leyden và trứng giun móc lại được tìm thấy, và bệnh nhân được cho thêm 1 liều albendazole nữa.

Đối với bệnh nhân này, nguyên nhân của các triệu chứng được xác định chắc chắn bằng phương pháp sinh học phân tử là do A. ceylanicum. A. ceylanicum có tỉ lệ nhiễm chiếm tới 62 – 92% trên chó mèo hoang, ô nhiễm môi trường ở công viên do phân chó hoang có thể là nguyên nhân lây nhiễm.

Khi nghiên cứu người ta thấy rằng A. ceylanicum cần 26 – 35 ngày để phát triển trong cơ thể người cho đến khi có thể xét nghiệm ra được, tuy nhiên triệu chứng đường tiêu hóa và tăng bạch cầu ái toan có thể xảy ra sớm hơn (khoảng 21 ngày). Lây nhiễm tự nhiên cho người đã được mô tả trong những vùng dịch tễ của A. ceylanicum trên động vật,, nhưng dữ liệu lâm sàng và bệnh học khá hiếm. Ở Đài Loan và Malaysia, loài giun sán giun móc này được tìm thấy trong ruột non của những bệnh nhân đau bụng cấp mức độ nặng, nôn ói, và được tìm thấy trong ruột già của những bệnh nhân thiếu máu do mất máu mãn tính, nôn ói và tiêu ra máu.

Trong tất cả các trường hợp bị nhiễm giun sán, giun móc chó từng được báo cáo thì bạch cầu ái toan đều tăng (22%-50%). Đối với bệnh nhân này, chúng tôi theo dõi viêm ruột do bạch cầu ái toan trong 2 tuần. Triệu chứng đường ruột của bệnh nhân lần này giống như những bệnh nhân ở Đài Loan đã từng được báo cáo trước đó. Thường các bệnh nhân được cho uống benzimidazole trong 3 ngày. Tuy nhiên, các bác sĩ lâm sàng cần chú ý là tái nhiễm có thể xảy ra, do thuốc diệt kí sinh trùng chủ yếu chỉ tiêu diệt giun móc trưởng thành chứ không tiêu diệt giun móc còn ở giai đoạn ấu trùng trong cơ thể bệnh nhân.

Kết luận giun sán – giun móc từ động vật sang người

Dù đó là giun sán, giun móc truyền từ người sang người hay từ động vật sang người thì cũng rất khó để xác định trứng hay ấu trùng là nguồn lây nhiễm cho bệnh nhân. Chẩn đoán giun sán – giun móc từ động vật sang người được dựa vào việc xác định hình dạng giun móc trường thành hoặc xác định cấu trúc phân tử của giun trưởng thành, trứng hoặc ấu trùng trong mẫu phân. Do đó những bệnh nhân đi du lịch về từ vùng dịch tễ kí sinh trùng thường được chẩn đoán lầm là những những loài giun sán, giun móc truyền từ người sang người. Nếu trên xét nghiệm trong mẫu phân có trứng giun sán, giun móc, có tinh thể Charcot-Leyden và bạch cầu ái toan tăng cao thì bác sĩ lâm sàng nên nghĩ đến khả năng nhiễm giun móc A. ceylanicum. Aceylanicum được tìm thấy chủ yếu ở các nước nhiệt đới; khả năng lan đến các nước ôn đới là thấp bởi vì sự phát triển của ấu trùng giun sán giun móc cần có nhiệt độ và độ ẩm cao. Tuy nhiên, vì hiện tượng thay đổi khí hậu trong khoảng thời gian gần đây cộng với tình trạng vệ sinh kém, một số trường hợp nhiễm ấu trùng giun móc di chuyển ngoài da đã được báo cáo ở Châu Âu (đây là những chủng có nguồn gốc nguyên thủy ở Châu Âu chứ không phải lan từ các nước nhiệt đới sang). Bài báo cáo này cho thấy tình trạng lây nhiễm bệnh giun sán giun móc từ động vật sang người nói chung đang trở thành một vấn đề sức khỏe toàn cầu.

Lược dịch từ bài báo : “Bloody Diarrhea Associated with Hookworm Infection in Traveler Returning to France from Myanmar” của các tác giả Julie Brunet, Jean-Philippe Lemoine, Nicolas Lefebvre, Julie Denis, Alexander W. Pfaff, Ahmed Abou-Bacar, Rebecca J. Traub, Bernard Pesson, Ermanno Candolf đăng trên báo Emerging infectious diseases

Bs. Nguyễn Phạm Diễm Kiều

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ