DẤU HIỆU NHẬN BIẾT VÀ CÁCH TRỊ BỆNH GIUN ĐẦU GAI

benhgiunsan.com Gnathostoma spp (Bệnh giun đầu gai) là ký sinh trùng của chó, các loài thú thuộc họ Felides và nhiều loài động vật hữu nhũ khác.

Khoảng 12 loài Gnathostoma được xác định, trong đó loài G.vietnamicum được L.V. Hòa phân lập năm 1964 từ thận con rái cá. Loài chủ yếu gây ra bệnh trên người là G.spinigerum, chỉ vài trường hợp nhiễm G.hispidum, G.doloresi, G.nipponicum được ghi nhận ở Nhật Bản, Trung Quốc.

Chúng được phân biệt dựa vào số lượng và hình dạng các hang gai nhỏ bao quanh đầu và thân (không chính xác khi gọi Gnathostoma spp là giun đầu gai vì Gnathostoma spp thuộc ngành Nermatode, trong khi giun đầu gai bao những loài thuộc ngành Acanthocephala).

Trên ký chủ chính, Gnathostoma spp.tạo thành những bọc u trong vách dạ dày. Khi xâm nhập vào người qua đường thực thẩm, ký sinh trùng sẽ gây hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral Larva Migrans, VLM) và các thể lâm sàng khác ở da. Tổn thương dạng ấu trùng di chuyển dưới da (Cutaneous Larva Migrans, CLM) thường do G.hipidum.

1. Hình thể giun đầu gai Gnathostoma spp

Giun trưởng thành

Gnathostoma spp. màu nâu hơi đỏ, giống màu rỉ sét, thân hơi cong, dài khoảng 1,2-3,3cm, con cái dài hơn con đực. Đầu phình to thành vòm tròn, có tám hang gai nhỏ giống gai cây bông hồng, xếp thành hang đồng tâm vòng quanh đầu. Miệng có hai môi lớn, nối tiếp với thực quản. Phần hay phía dưới đầu thót lại, tạo thành cổ. Nửa trước của thân cũng có nhiều hàng gai nhỏ, nửa thân sau phẳng láng. Đuôi cong về phía bụng.

DẤU HIỆU NHẬN BIẾT VÀ CÁCH TRỊ BỆNH GIUN ĐẦU GAI

Hình ảnh giun đầu gai trưởng thành

Ấu trùng giai đoạn 3

Ấu trùng giai đoạn dài khoảng 3 – 4 mm, cấu trúc hình thể tương tự con trưởng thành nhưng đầu chỉ có 4 hàng gai vòng quanh, gai nhỏ hơn so với gai đầu của con trưởng thành và bộ phận sinh dục còn nguyên sơ.

2. Chu kỳ phát triển của giun đầu gai

Gnathostoma spp. Có tính đặc hiệu rộng về ký chủ và phải trải qua ký chủ trung gian trong chu trình phát triển. Ký chủ vĩnh viễn chính của G.spinigerumbao gồm các loài thuộc họ chó và họ mèo. Ký chủ trung gian I (KCTG I) là loài động vật chân khoèo Cyclop. Ký chủ trung gian II và ký chủ chờ thời là những loài giáp xác, cá nước ngọt, lưỡng cư, bò sát, chim, gà và một số loài động vật hữu nhũ khác.

Giun trưởng thành ký sinh ở dạ dày của ký chủ vĩnh viễn, tạo thành các bọc u và đẻ ra trứng. Trứng được thải ra ngoài theo phân. Gặp môi trường nước có nhiệt độ thích hợp (khoảng 270C), trứng tiếp tục phát triển, sau 1 – 2 tuần sẽ nở và phóng thích ấu trùng 1. Ấu trùng bơi lang thang cho đến khi được Cyclop nuốt vào (KCTG I). trong vòng 7 – 10 ngày, chúng lột xác thành ấu trùng 2, đôi khi chuyển sang thời kỳ đầu của ấu trùng 3, chưa có tính lây nhiễm.

Để trở nên lây nhiễm, các ấu trùng này phải phát triển tiếp tục trong cơ thể của KCTG II. Khi các loài KCTG II ăn Cyclop, ký sinh trùng xâm nhập vào các cơ quan, tồn tại dưới dạng các bọc nang chứa ấu trùng 3 lây nhiễm.

Trường hợp KCTG II bị một loài KCTG II ăn thịt (như cá lớn nuốt cá bé, rắn ăn ếch, chim ăn cá…), ấu trùng 3 lây nhiễm được phóng thích, được di chuyển đến mô tạo nên các nang mới, nhưng không phát triển cao hơn, vẫn giữ cấu trúc của giai đoạn này, do đó KCTG II được gọi là ký chủ chờ thời (paratenic host).

Sự nhiễm trên ký chủ vĩnh viễn xảy ra do chúng ăn KCTG II hoặc ký chủ chờ thời có chứa mầm bệnh. Ấu trùng 3 sẽ thoát khỏi nang, xuyên qua vách dạ dày, tá tràng vào xoang bụng, đến gan, cơ và mô liên kết để phát triển. Thời gian di trú kéo dài khoảng 4 tuần.

Sau đó, chúng quay về xâm lấn vách dạ dày hoặc ruột non tạo nên các bọc bướu và trưởng thành sau 6 – 8 tháng. Một chu kỳ phát triển của Gnathostoma spp đòi hỏi khoảng 1 năm để hoàn tất. Trên thực nghiệm Gnathostoma spp có thể xâm nhập vào ký chủ vĩnh viễn do uống nước có chứa Cyclop.

Người chỉ là ký chủ tình cờ, bị nhiễm do ăn các món sống, tái chế biến từ các loại KCTG II hoặc ký chủ chờ thời, nhất là các loài các thuộc giống các lóc (Channa spp.). Trên cơ thể người sau khi xuyên qua vách ruột, ấu trùng 3 Gnathostoma spp lang thang khắp nơi nhưng sự phát triển dừng lại ở giai đoạn ấu trùng hoặc giun non, hiếm khi đạt đến giai đoạn trưởng thành, thậm chí nếu trưởng thành, vẫn không thể sinh sản.

DẤU HIỆU NHẬN BIẾT VÀ CÁCH TRỊ BỆNH GIUN ĐẦU GAI

Chu kỳ phát triển của giun đầu gai

3. Đặc điểm dịch tễ học bệnh giun đầu gai

Gnathostoma spp gây bệnh phổ biến ở các nước nhiệt đới và ôn đới, đặc biệt ở Châu Á như Thái Lan, Nhật Bản, Lào, Cambodia, Trung Quốc, Mã Lai, Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc. Ngoài ra nhiều trường hợp cũng được phát hiện ở Mexico Ecuador thuộc Châu Mỹ La Tinh.

Các công bố ở Úc, Hoa Kỳ, Trung Đông chỉ xảy ra trên đối tượng nhập cư hoặc du lịch từ các vùng nội dịch. Hầu hết các ghi nhận chỉ mang tính báo cáo trường hợp bệnh, chưa có đánh giá về tần suất bệnh cụ thể.

Tại miền nam Việt Nam, bệnh xảy ra lẻ tẻ, ước tính trung bình <10 bệnh mỗi năm. Tuy nhiên, một vài điều tra trên chó (ký chủ vĩnh viễn của Gnathostoma spp.) tại khu vực phía Nam, đã phát hiện khoảng 4,12% chó mang ký sinh trùng này trong dạ dày; tập trung ở các tỉnh Đồng Tháp, Cà Mau, Bình Dương, Tây Ninh, Long An… Ở TP.Hồ Chí Minh, tỉ lệ chó nhiễm tác nhân này vào khoảng 2,3%.

Khảo sát tình hình nhiễm Gnathostoma spp. trên KCTG II trong thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long từ 2004 – 2006 đã ghi nhận khoảng 0,8% – 19,6% mẫu lươn chứa nang ấu trùng, thay đổi theo vùng và theo mùa.

Như vậy, nguồn nhiễm rải rác nhiều nơi trong khu vực phía Nam Việt Nam, phối hợp với thói quen ăn tái uống tươi ngày càng gia tăng, chắc hẳn bệnh sẽ xuất hiện nhiều hơn.

Ấu trùng lây nhiễm Gnathostoma spp xâm nhập vào người qua thức ăn không được nấu kỹ như cá lóc nướng trui, mắm thái chế biến từ cá, cá kèo nướng mọi… Các món ăn kiểu Nhật như món sushi, sashimi, cá hồi sống chấm mù tạt; hoặc món sevich ở miền Nam Mexico, sum-fak ở Thái Lan đều liên quan đến bệnh.

Các biện pháp ngâm trong giấm đậm đặc trên 5 giờ, bảo quản ở -200C/5 ngày có thể giết được ấu trùng nhưng ngâm trong nước cam, nước chanh nguyên chất hoặc bảo quản ở -40C/1 tháng đều không có tác dụng bất hoạt ấu trùng.

Phương thức truyền qua nhau thai khi mẹ bị nhiễm đã được quan sát trên chuột thí nghiệm. Ở người, vấn đề đang được tranh cãi tuy có báo cáo về trường hợp bệnh ở trẻ nhũ nhi.

4. Bệnh học giun đầu gai

Bệnh do Gnathostoma spp ở người, là một loại động vật ký sinh, diễn tiến mạn tính, thời gian ủ bệnh thay đổi từ vài tuần đến vài tháng, vài năm, nhưng có khả năng gây tử vong. Trong một số trường hợp, ấu trùng tồn tại 10 – 12 năm với nhiều đợt bộc phát xen kẽ những khoảng không triệu chứng. Đợt đầu thường tự giới hạn sau 1 – 2 tuần. Theo thời gian, các đợt tái phát ngắn hơn, thưa dần và bớt trầm trọng.

Bệnh cảnh lâm sàng xuất phát từ cơ chế tổn thương cơ học ở mô do quá trình di chuyển và tác động của độc tố như acetylcholine, protease, hemolysin, chất hyaluronidase-like, cũng như đáp án của vật chủ đối với tình trạng nhiễm ký sinh trùng. Đặc tính quan trọng có giá trị gợi ý mạnh đến tác nhân này là tính di chuyển của tổn thương do Gnathostoma spp không cố định lâu dài tại bất kỳ vị trí ký sinh nào.

Sau khi xâm nhập vào người, ấu trùng 3 xuyên qua vách dạ dày, tá tràng để đến gan. Giai đoạn ấu trùng xâm nhập gan là giai đoạn quan trọng và hầu như bắt buộc đối với sự phát triển của ký sinh trùng.

Tại đây, chúng phá hủy nhu mô gan, gây rối loạn chức năng gan tương ứng với biểu hiện đau thượng vị, sốt, nôn, ói, tiêu chảy thoáng qua trên lâm sàng. Tiếp theo, ấu trùng di chuyển đến da, mô dưới và nội tạng với bệnh cảnh đa dạng (CLM = cutaneous larva migrans; VLM = visceral larva igrans).

Thể bệnh ở da – mô dưới da

Ký sinh trùng ký sinh ở mô dưới da sẽ gây phù cứng cục bộ và di chuyển, kích thước thay đổi, thường nhỏ hơn nắm tay, ngứa da nổi mẩn, hơi đỏ, nóng, đau nhẹ, âm ỉ hoặc đau nhói như dao đâm; vị trí xuất hiện đầu tiên thường ở thân, nhất là bụng, kéo dài khoảng vài ngày sẽ giảm dần và biến mất, sau đó xuất hiện tại nơi khác hoặc vùng khác của cơ thể như chân, tay, mặt.

Khi ấu trùng tiến dần lên bề mặt da, đường viêm đỏ ngoằn ngoèo của hội chứng ấu trùng di chuyển ngoài da được hình thành, tiến triển khoảng 1cm/giờ theo chiều dài tổn thương. Kích thước ấu trùng lớn nên dễ dàng quan sát bằng mắt thường và có thể bắt được bằng cách cào nhưng trên lớp sừng của tổn thương. Đôi khi Gnathostoma spp tự trồi lên mặt da và được bệnh nhân kéo ra.

Sự thâm nhiễm bạch cầu ái toán trên hình ảnh mô học được quan sát rõ nhất kh ấu trùng hoặc giun non ký sinh giữa lớp lưới của mô liên kết và lớp mỡ dưới da.

DẤU HIỆU NHẬN BIẾT VÀ CÁCH TRỊ BỆNH GIUN ĐẦU GAI

Hình ảnh giun đầu gai trồi lên mặt da

Thể bệnh nội tạng

Gnathostoma spp di chuyển sâu và cơ thể người sẽ gây bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM) với bệnh cảnh nặng, có thể tiến triển đến tử vong. Sự ký sinh của giun tại các mô từ phần cổ trở lên thường nghiêm trọng hơn so với các cơ quan thuộc phần thân cơ thể.

Các thể nội tạng nhẹ như tràn khí phổi, ho ra máu khi giun đến phổi, tiểu máu khi thận bị giun ký sinh hoặc hình thành các u hạt nếu giun trú đến xoang phúc mạc…

Thể phù mắt do Gnathostoma spp thường được phân biệt với các tác nhân khác như nhiễm Trichinella spiralis (thường phù hai mi dưới, kèm đau cơ, khó vận động, bạch cầu ái toan tăng rất cao), hoặc nhiễm Sparganum (Spirometra mansoni) liên quan đến việc đắp thịt ếch nhái tươi lên mắt.

Loét giác mạc, viêm màng bồ đào, viêm tổ chức hốc mắt, xuất huyết tiền phòng, tăng nhãn áp thứ phát (glaucoma)… là các biểu hiện thường gặp trong nhiễm Gnathostoma spp nội nhãn, nhiều khả năng để lại di chứng teo thủy tinh thể, bong võng mạc dẫn đến giảm thị lực hoặc mù.

Trường hợp ký sinh trùng xâm lấn thanh quản, sự phù nề có khả năng dẫn đến khó thở, hoặc do giun di chuyển tự do trong hệ thần kinh sẽ phá hủy nhu mô não, não bị xuất huyết tiên lượng rất dè dặt.

Các dạng tổn thương ở hệ thần kinh do Gnathostoma spp bao gồm viêm não nước trong kèm tăng bạch cầu ái toan (eosinophilic meninges), viêm não – màng não (meningoencephalitis), viêm não tủy (myeloencephalitis), viêm rễ tủy (radiculomyelitis), viêm rễ thần kinh (radiculitis), xuất huyết dưới nhện.

DẤU HIỆU NHẬN BIẾT VÀ CÁCH TRỊ BỆNH GIUN ĐẦU GAI

Hình ảnh giun đầu gai gây tổn thương mắt

Tổn thương rễ thần kinh được thể hiện bởi đau nhói dữ dội ở thân, chi, vùng đáy chậu, không đáp ứng với thuốc giảm đau, do ấu trùng thường xuyên qua các rễ thần kinh cột sống để đến ống tủy và não bộ; kéo dài khoảng 1 – 5 ngày đồng thời tiến triển dần đến liệt chi, thường liệt hai chi, có thể ba chi hoặc bốn chi.

Thể viêm màng não được gợi ý bởi các dấu hiệu tổn thương thần kinh não, giật nhãn cầu, hội chứng kích thích màng não (nhức đầu dữ dội, cổ cứng, nôn ói, ất cảm giác, co giật, hôn mê). Trong số các trường hợp bệnh, 41% liệt thần kinh sọ não, 26% chảy máu dưới màng nhện, 15% tổn thương thần kinh mắt, 8% xuất huyết nội sọ, 3% đầu nước do tắc nghẽn thoáng qua. Tỷ lệ tử vong khoảng 13% do ký sinh trùng tấn công cuống não, ống tủy hoặc do xuất huyết dưới nhện. khoảng 38% đối tượng khỏi bệnh có di chứng thần kinh.

Đặc điểm lâm sàng quan trọng nhất trong viêm não do Gnathostoma là tính di chuyển của các triệu chứng thần kinh, sự biến mất và tái xuất hiện của các biểu hiện cần được lưu ý trong chẩn đoán.

5. Chẩn đoán bệnh giun đầu gai

Chẩn đoán định hướng

Biểu hiện lâm sàng : dựa vào các triệu chứng lâm sàng, đặc biệt khi tổn thương có tính di chuyển.

Các yếu tố dịch tễ:

Tiền sử ăn các món sống/tái chế biến từ các nước ngọt, rắn, ếch, lươn, chim, gà…

Nơi lưu trú, du lịch,…

Các xét nghiệm hỗ trợ : Công thức máu : Bạch cầu có thể tăng trong máu ngoại vi với bạch cầu ái toan dao động trong khoảng 30% – 80% tùy thể lâm sàng. Tuy nhiên, khoảng 40%-50% trường hợp bạch cầu ái toan bình thường, nhất là các thể bệnh ở nhãn cầu.

Xét nghiệm dịch não tủy : Dịch não tủy trong; áp lực tăng; tế bào tăng, có thể >500 tế báo/mm3 (trung bình khoảng 200 tế báo/mm3) và bạch cầu ái toan luôn luôn chiếm ưu thế; hồng cầu và nhiễm sắc vàng (xanthochromia) xuất hiện trong trường hợp xuất huyết dưới nhện.

Chẩn đoán hình ảnh học giúp phát hiện tình trạng xuất huyết dưới nhện hoặc trong não bộ.

Chẩn đoán xác định

Bắt được Gnathostoma sp từ tổn thương.

Phát hiện kháng thể đặc hiệu bằng thử nghiệm miễn dịch ELISA hoặc Western blot. Tuy nhiên, phản ứng ELLSA được sử dụng nhằm củng cố thêm định hướng trên lâm sàng hơn là xác định tác nhân gây bệnh và không dùng để định danh loài vì khả năng chéo giữa các loài Gnathostoma spp rất cao.

Phản ứng trùng hợp chuỗi (Ribosomal DNA sepuecing) đặc hiệu hơn trong chẩn đoán bệnh.

6. Điều trị bệnh giun đầu gai

Bắt giun là biện pháp hiệu quả nhất. Hầu hết các trường hợp chỉ nhiễm một con giun, rất hiếm khi nhiễm nhiều hơn.

– Albendazole

– Thiabendazole

– Ivermectine

– Các thuốc hỗ trợ khác

7. Phòng ngừa bệnh giun đầu gai

Không ăn các món sống/tái chế biến từ các KCTG II và ký chủ chờ thời, nhất là cá nước ngọt. Ấu trùng cuộn tròn trong mang ở cá có thể chết khi được đun nóng đến 700C/5 phút hoặc ngâm trong giấm đậm đặc trên 5 giờ.

Uống nước nấu chín.

Kiểm soát chặt chẽ các loại thực phẩm như cá, lươn, ếch, gà… đông lạnh, nhập khẩu từ các vùng nội dịch.

.

Nhóm BS Phòng Khám Chuyên Khoa Ký Sinh Trùng Ánh Nga
.
PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
ĐC: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 – Lịch khám bệnhBản đồ
Hoặc Tổng đài: 0281080

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ