Bệnh Sán Lá Phổi: Những Điều Cần Biết

Loài sán lá phổi gây bệnh thường gặp là Paragonimus westermani, Paragonimus heterotremus, Paragonimuskellicotti, Paragonimus pulmonalis. Thời gian qua những nghiên cứu tại Việt Nam, cùng với việc ứng dụng sinh học phân tử sán lá phổi đã phát hiện loài sán chính gây bệnh sán lá phổi là Paragonimus heterotremus.

ĐẶC ĐIỂM CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN SÁN LÁ PHỔI  DIẾN RA NHƯ THẾ NÀO?

Sán lá phổi trưởng thành sống ở trong phổi, đẻ trứng tại phổi, trứng bị ho ra ngoài bị nuốt lại rồi theo phân ra ngoài. Sau 2 đến 3 tuần, ấu trùng lông nở ra, ký sinh ở ốc Melanoides, thành bào tử nang, redia và ấu trùng đuôi di chuyển trong môi trường nước.

Ấu trùng đuôi chui ra khỏi ốc, ký sinh vào những loài tôm cua nước ngọt, và biến thành nang ấu trùng sán lá phổi ở những cơ ngực của những loài giáp xác đó. Người khi bị bệnh khi ăn nhằm tôm, cua bị nhiễm nấu chưa chín, một số trường hợp ăn mắm cũng bị nhiễm sán lá phổi.

Chu kỳ phát triển của bệnh sán lá phổi

Khi ấu trùng sán lá phổi di chuyển đến tá tràng, nang trùng xuyên qua thành ruột tới xoang bụng, qua hoành cách mô, màng phổi rồi vào phổi. Rồi di chuyển từ ruột đến phổi, sán lá phổi gây thiệt hại cho các mô mà nó đi qua.

Vào đến phổi, các tế bào hệ võng nội mạc bao vây làm thành mô sợi xung quanh và tạo thành màng bọc có đường kính khoảng 1,5cm, chứa sán lá phổi xung quanh có máu, mủ và một chùm trứng sán lá phổi.

Trong lúc di chuyển, sán lá phổi non có thể lọt vào một nốt tĩnh mạch, về đại tuần hoàn và định vị ở những nơi xa như não, gan, da,…Ngoài người, các gia súc như chó, mèo, heo, khỉ có thể nhiễm ký sinh trùng sán lá phổi

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỂ SÁN LÁ PHỔI

Hình thể sán lá phổi trưởng thành :

Kích thước sán lá phổi dài 8 đến 12 mm, rộng 4 đến 6mm, dày 3,5 đến 5mm. Sán lá phổi có màu nâu đỏ, trông tựa như hạt cà phê, có hai đĩa hút bằng nhau: một ở miệng, một ở bụng.

Hình thể sán lá phổi bên trá và trứng sán lá phổi bên phải

Thực quản sán lá phổi thường ngắn, có ống tiêu hóa theo một vòng tròn. Bộ phận sinh dục đực sán lá phổi gồm có tinh hoàn ít phân nhánh và ở đầu cuối của ống tiêu hóa. Buồng trứng to chia thành thùy.

Hình thể trứng sán lá phổi: Có hình bầu dục, màu nâu sẫm, khá lớn. Kích thước sán lá phổi : từ 80 – 120 x 45 – 60 µm, nắp bằng ít lồi. Vỏ trứng sán lá phổi thường dày nhiều nhất là cực đối diện nắp. Trứng sán lá phổi mới sinh ra chỉ có một đám tế bào.

  1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH SÁN LÁ PHỔI

Tại Việt Nam, ổ bệnh sán lá phổi được phát hiện từ năm 1994 ở Sìn Hồ, Tùa Chùa – Tỉnh Lai Châu, Thuận Châu và Mộc Châu – Tỉnh Sơn La, Đà Bắc – Tỉnh Hòa Bình,…. Chủng loại sán lá phổi là Paragonimus heterotrmus. Qua điều tra nghiên cứu dịch tễ thường kỳ của các đơn vị chuyên trách như y tế dự phòng, các năm gần đây cho thấy bệnh sán lá phổi vẫn tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Tây Bắc.

Loài cua là nguồn trung gian truyền bệnh: Ranguna kimboiensis. Cua đá mang ấu trùng sán lá phổi chiếm tỷ lệ 63,5%. Ốc trung gian Melanoides mang ấu trùng sán lá phổi, ở trẻ em chiếm tỷ lệ cao 69,4%, tỷ lệ ở người lớn nhiễm bệnh sán lá phổi thấp hơn, từ 0,2% – 15%.

Bản đồ phân vùng và tỷ lệ nhiễm sán lá phổi tại Việt Nam

Các món ăn chính dẫn tới việc nhiễm bệnh sán lá phổi là cua nướng hoặc canh cua nấu không kỹ. Ngoài ra việc giã nát cua lấy nước chữa bệnh cũng là yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh sán lá phổi cho người.

Ngoài cua, tôm cũng ký chủ trung gian và các món ăn từ tôm chưa chín có chưa nang trùng có thế dẫn tới việc nhiễm bệnh sán lá phổi. Tuy nhiên, không có những dữ liệu nghiên cứu từ loài ký sinh trùng trung gian này tại Việt Nam.

DẤU HIỆU TRIỆU CHỨNG BỆNH SÁN LÁ PHỔI

Bệnh biểu hiện bệnh sán lá phổi bằng những cơn ho, có đờm lẫn máu, kéo dài, sau một thời gian, ho trở thành mạn tính, ho nhiều vào sáng sớm đờm có màu rỉ sắt giống như viêm phổi. Thỉnh bệnh sán lá phổi gây ho ra máu, triệu chứng bệnh sán lá phổi rất giống bệnh lao, đôi khi mẩn ngứa da dị ứng giống bệnh da liễu, nhưng xét nghiệm tìm trực khuẩn lao (BK) thì âm tính, đa số các trường hợp bị bệnh sán lá phổi không kèm theo sốt, một số trường hợp có tràn dịch màng phổi.

Chụp X-quang phổi có hạch trung thất sưng to, tổn thương nhu mô phổi là những nốt mờ, mảng mờ có hang nhỏ, chủ yếu tổn thương phổi tại vùng phổi thấp, bạch cầu ái toan tăng BCAT trong đa số các trường hợp khi nhiễm bệnh sán lá phổi.

Đối với những trường hợp bệnh sán lá phổi có sán ký sinh ở các phủ tạng, các triệu chứng diễn biến rất phức tạp, thùy theo phủ tạng bị bệnh sán lá phổi ký sinh. Nếu sán lá phổi ở não, thường có những cơn động kinh ngắn, hội chứng ở não chiếm tỷ lệ 6,3% bệnh nhân ở vùng nội dịch; ở gan gây áp-xe gan do bệnh sán lá phổi

PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH  SÁN LÁ PHỔI

Chẩn đoán bệnh sán lá phổi dựa vào lâm sàng : Giống như bệnh lao nhưng không tìm thấy vi khuẩn lao, bệnh sán lá phổi không gầy sút nhanh chóng như bệnh lao, không sốt về chiều. Tuy nhiên, bệnh sán lá phổi có thể kèm với bệnh lao và đôi khi chẩn đoán bệnh sán lá phổi gặp khó khăn.

Chẩn đoán xác định bệnh sán lá phổi :

Dựa vào xét nghiệm đờm tìm thấy trứng sán phổi và có thể có tinh thể Charcot Leyden.

Ngoài ra, có thể thấy trứng sán lá phổi trong phân do bệnh nhân nuốt đờm, nhất là trẻ em.

Xét nghiệm huyết thanh miễn dịch chẩn đoán bệnh sán lá phổi:

Xét nghiệm miễn dịch ELISA OD dùng kháng nguyên hòa tan, điều chế từ sán lá phổi trưởng thành lấy từ chó, lợn ở vùng nội dịch. Được triển khai tại phòng khám chuyên khoa ký sinh trùng để chẩn đoán bệnh sán lá phổi

ĐIỀU TRỊ SÁN LÁ PHỔI BAO LÂU

Praziquantel (distocide) 25 – 30mg/kg/ngày chia 3 lần x 2 ngày. Phối hợp các thuốc kháng viêm và điều trị triệu chứng

DỰ PHÒNG SÁN PHỔI BẰNG CÁCH NÀO?

Luôn ăn chín, uống sôi, không ăn tôm, cua sống./.

Bác sĩ. Đặng Thị Nga

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA
KÝ SINH TRÙNG ÁNH NGA TP.HCM
Chuyên trị bệnh giun sán – mẩn ngứa do giun sán
ĐC: 74 Trần Tuấn Khải, P.5, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 – Tổng đài: 0281080
Lịch khám bệnhBản đồ chỉ dẫn

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

02838302345

Gọi điện SMS Liên hệ