Bệnh Giun Xoắn Ở Người Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Trị Bệnh Giun Xoắn

Bệnh giun xoắn ở người gây ra bởi một loại giun tròn có tên khoa học là Trichinella spiralis. T.spiralis có thể gây bệnh cảnh cấp tính trên một ký chủ ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng.

Là ký sinh trùng (KST) của loài hữu nhũ ăn thịt, bao gồm heo và chuột, nhưng trong thiên nhiên. T.spiralis hiện diện ở nhiều loài động vật khác nhau. Người bị nhiễm bệnh do ăn thịt heo sống hay nấu chưa chín bị nhiễm, đặc biệt là dân ở các bộ lạc.

Mặc dù heo và các sản phẩm từ chế biến từ thịt heo thường là nguồn nhiễm ở người, đôi khi bị nhiễm do ăn thịt sống của vài loại thú hoang như gấu. Chu trình hoàn chỉnh của Trichinella spiralis xảy ra trên một ký chủ. Ký sinh trùng có thể lan truyền từ một động vật ăn thịt bị nhiễm sang một động vật khác cùng hay khác loại.

1. HÌNH THỂ GIUN XOẮN

Giun trưởng thành : Rất nhỏ, màu trắng đục, kích thước;

Giun đực: 1,5mm x 0,04mm. Giun đực đuôi cong có hai thể phụ hình nón ở phía đuôi, dùng để giữ giun cái lúc giao hợp. Giữa hai thể phụ này có một huyệt, có thể lộ ra ngoài và đóng vai trò cơ quan giao hợp.

Giun cái : 3,5mm x 0,06mm. Giun cái có âm môn ở nửa trước thân mình, đầu bám chặt vào màng ruột, nửa thân gắn vào nếp xếp ruột non nên khi giun cái đẻ, ấu trùng vào thẳng màng nhày ruột non,…

Ấu trùng

Kích thước: 100 µm x 6 µm, nên có thể đi qua những vi huyết quản ở bắp thịt. trong sợi thịt, ấu trùng có thể đạt tới kích thước 900 – 1.300 µm x 35 – 49 µm. Ấu trùng kéo thành bọc (nang) trưởng thành có ống tiêu hóa, tương tự như giun trưởng thành, phân biệt được phái tính, mặc dù cơ quan sinh dục chưa hoàn thiện. Thông thường một bọc chỉ có một ấu trùng, nhưng cũng có thể nhiều hơn. Sau một thời gian sống, nang sẽ bị hóa vôi.

Bệnh Giun Xoắn Ở Người Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Trị Bệnh Giun Xoắn

Giun xoắn kẻ sát nhân thầm lặng nguy hiểm

2. CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN BỆNH GIUN XOẮN

Khi người ăn thịt sống hay nấu chưa chin có ấu trùng Trichinella spiralis, ấu trùng đến dạ dày,dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, làm tiêu vỏ bọc, ấu trùng giai đoạn 1 (L11 (L1) gây nhiễm được phóng thích, và phát triển thành giun đực và cái trưởng thành sau bốn lần lột xác trong khoảng 2 ngày.

Tại đoạn cuối ruột non, sau khi thụ tinh, giun xoắn đực chết, trong khi giun cái đẻ ra ấu trùng giai đoạn 1 sơ sinh, sau đó phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2, đi vào hệ tuần hoàn, ấu trùng đi vào mạch máu nhỏ ở niên mạc ruột non, ở niên mạc ruột non, theo tĩnh mạch cửa đến gan, lên tim phải rồi động mạch phổi. Ở phổi ấu trùng đi vào các mao mạch rồi qua tim trái, từ đó phát tán đi các cơ quan và đọng lại bất cứ nơi nào trong cơ thể. Thường ấu trùng giun xoắn chỉ đóng kén ở cơ vân, nhiều nhất là cơ hoành, cơ nhai, cơ liên sườn, cơ thanh quản, cơ lưỡi, cơ má, cơ ngực, cơ delta, cơ mông, cơ hai đầu…

Tuổi thọ của giun trưởng thành chỉ khoảng vài tuần đến vài tháng, nhưng tuổi thọ ấu trùng trong bọc có thể kéo dài nhiều năm và thường bị khô cứng trong vòng 1 năm. Bọc có kích thước độ 400 µm, nằm theo chiều dọc của các thớ cơ, mỗi bọc chứa một ấu trùng dài độ 800 µm, cuộn lại thành hình xoắn ốc. Ấu trùng có sức đề kháng rất cao: Trong thịt xúc vật được mổ, dù đã thối rửa ấu trùng có thể sống 2 – 3 tháng.

Ở nhiệt độ -100C: Ấu trùng trong bọc sống gần 10 ngày. Tuy nhiên, sức đề kháng của ấu trùng kém khi tiếp xúc với nhiệt độ cao.

Nhiệt độ 500C có khả năng diệt ấu trùng 5 – 10 phút. Do đó ăn thịt nấu chín là bảo đảm nhất không sợ mắc bệnh.

Chuột và thú rừng là vật chủ của KST này. Thường chuột bị nhiễm là do ăn thịt này. Thường chuột bị nhiễm là do ăn thịt lẫn nhau, heo bị nhiễm là do ăn thịt chuột mắc bệnh, người bị nhiễm do ăn thịt heo (kể cả thịt rừng) nấu không chín.

Trong trường hợp người bị nhiễm giun xoắn, ấu trùng ký sinh trong cơ thể người không được chuyển qua bất kỳ ký chủ nào khác (bị ăn thịt), từ đó không thể tiếp tục thực hiện chu trình phát triển và tạo thành hiện tượng ngõ cụt ký sinh.

3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN XOẮN

Bệnh giun xoắn gặp ở nhiều nơi trên thế giới. Giun xoắn có ba loài phụ, không thể phân biệt được về hình thể nhưng khác nhau về phân bố địa dư : T.spiralis spiralis thường gặp nhất ở vùng ôn đới. T.spiralis nativa ở vùng Bắc cực, T.spiralis T.spiralis nativa ở vùng Bắc cực, T.spiralis nelson ở Châu Phi và Nam Âu.

Người bị nhiễm do ăn sống hoặc nấu không chín thịt của những động vật bị nhiễm, đặc biệt là heo. Thú hoang cũng giữ vai trò quan trọng trong việc lan truyền bệnh, đặc biệt là gấu, gấu hoang và heo rừng.

Bệnh có thể gây thành dịch khi tại địa phương có nhiều thú mắc bệnh và tập quán ăn thịt sống. Tại Việt Nam, gần đây một báo cáo dịch tã xảy ra ở xã Quải Tờ, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, khi người ta ăn món lạp (chế biến từ thịt heo còn chưa chín) tại một tiệc cưới khiến 23 người mắc bệnh.

Nhiều sản phẩm có trộn lẫn thịt heo với những loại thịt khác cũng là nguồn nhiễm

Bệnh Giun Xoắn Ở Người Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Trị Bệnh Giun Xoắn

Chu kỳ phát triển của bệnh giun xoắn

4. TRIỆU CHỨNG BỆNH BỆNH GIUN XOẮN

Triệu chứng bệnh đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác. Sự đa dạng và độ nặng của bệnh tùy thuộc số giun ký sinh, tuổi, mô bị xâm lấn và sức đề kháng của bệnh nhân.

Biểu hiện lâm sàng thường gặp là phù, chủ yếu phù hốc mắt, đau cơ, nhức đầu, sốt, rối loạn hô hấp, tổng trạng kém.

Bệnh giun xoắn là bệnh nhiễm duy nhất gây sốt liên tục, kéo dài nhiều tuần, tương tự như sốt thương hàn.

Cận lâm sàng thường có bạch cầu ái toan trong công thức máu tăng cao.

Bệnh thường được chia thành ba giai đoạn lâm sàng tương ứng :

Giai đoạn xâm lấn ruột do giun trưởng thành : Bệnh nhân có thể tiêu chảy và sốt kéo dài, nhiều người bị cùng lúc.

Giai đoạn di chuyển của ấu trùng

Tiền sử viêm dạ dày, có ăn thịt sống hay nấu không kỹ trước đó.

Phù mí mắt, mặt, viêm kết mạc.

Đau, sung cơ, sốt, đổ mồ hôi, mất ngủ, ngứa, cảm giác kiến bò.

Giai đoạn ấu trùng kéo thành bọc và hồi phục

Tổng trạng suy yếu, chậm chạp, mất phản xạ xương bánh chè và gân Achilles, viêm cơ tim.

5. CHẨN ĐOÁN BỆNH GIUN XOẮN

Dựa và ổ lâm sàng: Trong trường hợp dịch bộc phát, sự phối hợp sốt, đau cơ, bạch cầu ái toan tăng cao, đủ để chẩn đoán bệnh giun xoắn, nhưng thường được xác định sau đó bằng xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán.

Phương pháp trực tiếp

Sinh thiết cơ : Đặc biệt là cơ nhai, cơ hoành, tốt nhất là chỗ cơ bị sung và cứng.

Công thức máu : Bạch cầu ái toan tăng cao.

Phương pháp gian tiếp

Tìm kháng thể ấu trùng giun xoắn trong huyết thanh bằng thử nghiệm ELISA với kháng nguyên được điều chế từ ấu trùng giai đoạn 1 gây nhiễm ở chuột phòng thí nghiệm.

6. ĐIỀU TRỊ BỆNH GIUN XOẮN

Điều trị triệu chứng : Cân bằng nước – điện giải, giảm đau, hạ sốt, nằm nghỉ, và corticoids ( (prednisoprednisolone 50 g/ngày), đặc biệt trong những trường hợp nặng để ngừa những triệu chứng giống sốc.

Điều trị đặc hiệu

Mebendazole 200 – 400 mg

Mebendazole 200 – 400 mg x 3 lần/ngày x 3 ngày, sau đó 400 – 500mg x 3 lần/ngày x 10 ngày.

Albendazole 400mgx 3 lần/ngày x 3 ngày, sau đó 400 – 500mg x 3 lần/ngày x 10 ngày.

Albendazole 400mg/ngày x 3 ngày, sau đó 800 mg/ngày x 15 ngày.

Thiabendazole 50 mg/kg/ngày x 5 ngày.

Các phác đồ trên được đề nghị sử dụng cho các giai đoạn bệnh ở ruột và ở cơ.

Các trường hợp nhiễm nhẹ không cần điều trị.

7. DỰ PHÒNG BỆNH GIUN XOẮN

Tương đối khó ở các xứ nhiệt đới, bao gồm các biện pháp:

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ