Bệnh giun chỉ bạch huyết

Nguyên nhân gây bệnh

Giun chỉ bạch huyết (GCBH) ở người được gây nên bởi 3 loài: Wuchereria bancrofti (W.bancrofti), Brugia malayi ( B.malayi), Brugia timori (B.timori).

Ở Việt Nam cho đến nay đã phát hiện được 2 loài gây bệnh giun chỉ bạch huyết đó là W.bancrofti và B.malayi. Ở miền Bắc,chủ yếu là giun chỉ B.malayi. Ở miền Nam, cho đến nay mới phát hiện giun chỉ W.bancrofti.

Chu kỳ phát triển của giun chỉ bạch huyết

Chu kỳ phát triển của Wuchereria bancrofti (W.bancrofti)

1) Khi muỗi có ấu trùng giun chỉ trung gian hút máu người.

2) Ấu trùng đến hệ thống bạch huyết phát triển thành giun chỉ trưởng thành và sống trong hệ thống bạch huyết của người.

3) Giun cái trưởng thành đẻ ra ấu trùng, ấu trùng lưu thông trong máu và thường xuất hiện ở máu ngoại vi vào ban đêm (8 giờ tối đến 4 giờ sáng). Muỗi là vật chủ trung gian truyền âu trùng từ người này sang người khác.

4-5-6-7) Muỗi hút máu người có ấu trùng giun chỉ, ấu trùng vào dạ dày của muỗi, xuyên qua thành dạ dày, sau đó duy chuyển tới cơ ngực muỗi. Tại đây ấu trùng phát triển qua 3 giai đoạn (L1-L3) để trở thành ấu trùng gây nhiễm. Thời gian từ khi ấu trùng vào cơ thể muỗi đến khi ấu trùng gây nhiễm khoảng 10-14 ngày.

8) Ấu trùng gây nhiễm di chuyển đến vòi muỗi và truyền sang người khác khi hút máu.

Tuổi thọ GCBH trưởng thành từ 4-6 năm, ấu trùng trong máu tới 1 năm.

Tình hình nhiễm bệnh giun chỉ bạch huyết

Trên thế giới: bệnh giun chỉ rất phổ biến ở các nước nhiệt đới. Trên thế giới có 120 triệu người ở 73 nước nhiễm bệnh và có khoảng 1,1 tỷ người (khoảng 20% dân số) sống trong vùng có bệnh lưu hành.

Biến chứng thường gặp là phù chân voi, đái dưỡng chấp. Ành hưởng nhiều tới sức lao động, thẩm mỹ và sinh hoạt của người bệnh.

Tại Việt Nam: theo số liệu diều tra trước năm 2000 cho thấy bệnh giun chỉ được phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam. Bệnh thường hay gặp ở các tỉnh vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, đặc biệt là 5 tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định. Tỷ lệ nhiễm chung là 2.01%

Kết quả điều tra từ năm 2000-2005 trên toàn quốc cho thấy bệnh giun chỉ phân bố rộng tại 12 huyện thuộc 7 tỉnh: Hưng Yên, Thái Bình, Hòa Bình, Quảng Bình, Khánh Hòa, Ninh Thuận với tỉ lệ nhiễm từ 0.3-13%.

Tác hại, triệu chứng của bệnh:

Biến chứng thường gặp là phù chân voi, đái dưỡng chấp. Ành hưởng nhiều tới sức lao động, thẩm mỹ và sinh hoạt của người bệnh.

Đa số người bệnh (90-95%) nhiễm giun chỉ bạch huyết ( có ấu trùng trong máu) nhưng không có biểu hiện lâm sàng trong nhiều năm hoặc có thể cả đời. Trường hợp có biểu hiện lâm sàng, có thể là có các triệu chứng khác nhau. Thường gặp là:

1. Các triệu chứng cấp tính:

Sốt: sốt cao, thường xuất hiện đột ngột; kèm theo mệt mỏi và nhức đầu nhiều; thường tái phát từng đợt; mỗi đợt thường kéo dài từ 3-7 ngày.

Viêm bạch mạch và hạch bạch huyết: thường xảy ra sau khi sốt vài ngày. Xuất hiện đường viêm đỏ, kèm theo triệu chứng đau, chạy dọc theo bạch mạch, thường là mặt trong của chi dưới. Hạch bẹn có thể bị sưng to, đau.

2. Các triệu chứng mạn tính thường gặp:

Viêm hoặc phù các bộ phận sinh dục như: viêm thừng tinh, tinh hoàn, tràn dịch màng tinh hoàn. Trường hợp bị viêm bạch mạch mạn tính ở bộ phận sinh dục, có thể gây nên những triệu chứng bìu voi hoặc vú voi.

Phù voi chi dưới: là hậu quả của triệu chứng viêm mạn tính hạch và mạch bạch huyết chi dưới, với đặc điểm là chân phù cứng, da dày. Tùy mức độ,có thể bị phù từ dưới bàn chân lên tới phần đùi.

Phù chân voi do giun chỉ bạch huyết

Đái dưỡng chấp: nước tiểu có màu trắng đục giống như nước vo gạo, để lâu không lắng, đôi khi có lẫn máu. Trường hợp lượng dưỡng chấp có trong nước tiểu nhiều, để lâu nước tiểu có thể bị đông lại.

Chẩn đoán:

Chẩn đoán xác định: phương pháp phổ biến nhất và đơn giản nhất hiện nay là phát hiện ấu trùng trong máu ngoại vi: tiến hành lấy máu ngoại vi vào ban đêm ( từ 20 giờ đến 24 giờ), đem đi làm tiêu bản, nhuộm giemsa và soi tìm ấu trùng dưới kính hiển vi. Tuy nhiên, trong các trường hợp phù chân voi hoặc đái dưỡng chấp thì tỷ lệ phát hiện thấy ấu trùng trong máu rất thấp ( chỉ khoảng 3-5% số bệnh nhân)

Đối với B.malayi: lấy máu ngoại vi vào ban đêm (từ 20 giờ đến 24 giờ), sau đó làm tiêu bản, đem đi nhuộm tiêu bản và soi phát hiện ấu trùng dưới kính hiển vi.

Đối với W.bancrofti: ngoài phương pháp xét nghiệm máu ban đêm tìm ấu trùng, hiện nay có thể phát hiện nhanh bằng test miễn dịch chẩn đoán nhanh ICT ( immuno-chromatographic test), có thể xét nghiệm máu ban ngày.

Các biện pháp phòng bệnh:

Điều trị toàn dân vùng có tỷ lệ nhiễm ấu trùng GCBH từ 1% trở lên và điều trị ca bệnh ở nơi có nhiễm bệnh rải rác.

Diệt muỗi và ngủ màn để tránh muỗi đốt.

KTV. KHƯƠNG VY

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ