Bệnh do ký sinh trùng và những độc tố từ các động vật biển chưa được quan tâm

Ký sinh trùng nằm trong cơ thể cá gây bệnh

Cũng như con người và động vật khác, cá cũng chịu đựng rất nhiều căn bệnh và ký sinh trùng (KST). Cá chống lại các bệnh tật theo cơ chế rất đặc biệt và không chuyên biệt (specific and non-specific). Cơ chế không chuyên biệt là phòng thủ thông qua đường da và vảy của cá, cũng như lớp niêm nhầy đã tiết ra trên biểu bì sẽ ngăn chặn các vi sinh vật và ức chế sự phát triển của chúng. Nếu các tác nhân gây ra bệnh chọc thủng cơ chế bảo vệ này, cá có thể phát triển đáp ứng viêm, tăng lượng máu đến các vị trí bị viêm nhiễm và phóng thích bạch cầu để phá hủy hay tiêu diệt các vi sinh vật.

Cơ chế đặc hiệu là đáp ứng đặc biệt với từng tác nhân gây bệnh cụ thể khi mà cá nhận ra thông qua sự miễn dịch thích nghi. Trong những năm gần đây, vaccin trở nên sử dụng càng rộng rãi trong nền nông ngư nghiệp và cá dùng để trang trí, chẳng hạn vaccine chống bệnh mụn rộp ở cá hồi nuôi hoặc virus trên cá koi. Một số những loại cá mang tính thương mại mắc các bệnh quan trọng như VHS, gây ngứa và bệnh whirling.

Tất cả các cá mang mầm bệnh và ký sinh trùng, thường ảnh hưởng đến một số chi phí chữa cho cá, nếu chi phí cao thì cần cân nhắc như một bệnh. Tuy nhiên, bệnh của cá không có sự hiểu biết đầy đủ, những gì chúng ta biết về bệnh của cá lại liên quan đến cá được nuôi trong bể, nuôi trong hồ và gần đây là cá trang trại.

Ký sinh trùng nhiễm trên cá là sự xuất hiện thường thấy trong tự nhiên. KST có thể cung cấp những thông tin về sinh thái quần thể vật chủ. Chẳng hạn như trong sinh học về cá, cộng đồng KST có thể sử dụng để phân biệt các quần thể khác nhau của cùng loài cá đang sống ở trên một vùng. Ngoài ra, ký sinh trùng còn biểu hiện ở một loạt các dòng đặc biệt có thể tập trung trên các vật chủ mang tính khu trú. Nếu hiểu biết các khía cạnh đặc biệt về hệ sinh thái ký sinh trùng này, sẽ mang lại các lợi điểm đúng, các chiến lược tránh các bệnh lý ký sinh trùng gây ra cho vật chủ và gây bệnh cho con người.

Tuy nhiên, không phải tất cả các ký sinh trùng muốn giữ vật chủ của chúng còn sống và có một số ký sinh trùng có những chu kỳ đa giai đoạn sẽ cho ra một số những vấn đề phiền toái đã giết chết vật chủ của chúng. Chẳng hạn, một số loại sán làm cho một số cá hành động trong các phương thức như thế mà chim xem đó là mồi để dễ bắt mồi. Các con chim mồi là vật chủ kế tiếp đối với ký sinh trùng trong các giai đoạn tiếp theo trong chu kỳ. Đặc biệt, sán Schistocephalus solidus thường có thể nhiễm vào trong các cá gai trắng-đen và rồi làm cho chúng nổi lên trên mặt vì thế chúng sẽ bắn nước tung tóe trên bề mặt của nước, trở nên dễ dàng nhìn thấy và dễ bị bắt được khi chim bay qua. Các ký sinh trùng có thể là nội (nội ký sinh-endoparasites) hoặc ngoài (ngoại ký sinh-ectoparasites). Một số ký sinh trùng của cá nội ký sinh là đặc biệt, như là giun tròn Philometra fasciati lại ký sinh trong buồng trứng của con cá gai cái; con ký sinh trùng cái đã trưởng thành là một loại giun màu đỏ có thể dài đến 40 cm, đường kính 1.6 mm và con đực thường nhỏ hơn.

Ví trí ký sinh của giun sán trong cơ thể cá

Các ký sinh trùng nội được tìm thấy sống trong các mang của con cá, gồm cả con sán đã trưởng thành cặp đôi đóng kén, một số giun tròn sống cặp ba của họ Huffmanela, gồm cả Huffmanela ossicola sống trong những xương mang cá và ký sinh trùng giun dẹt có tiêm mao đóng kén Paravortex. Các protist và Myxosporea khác nhau cũng ký sinh trên các mang cá, ở dó chúng là đang ở dạng nang.

Các mang cá lại là nơi thích hợp của nhiều loại ký sinh trùng, dính với mang cá nhưng lại sống ngoài mang cá. Các loại đó gọi là loài sán sống ký sinh trên cơ thể cá (monogeneans) một số nhóm bộ chân kiếm kí sinh trùng có thể còn rất nhiều. Các ký sinh trùng bên ngoài khác được tìm thấy trên mang cá là con đĩa hút máu (leeches) và trong nước biển, ấu trùng của các gnathiid isopods. Các ký sinh trùng của cá đẳng túc (isopod fish parasites) hầu như là mở rộng và hút máu.

Ấu trùng của họ Gnathiidae và các cymothoidids trưởng thành có các công cụ sắc nhọn và có phần miệng hút và chân có móng vuốt giúp chúng thích nghi với việc leo trèo trên các vật chủ. Cymothoa exigua là loại ký sinh trùng của nhiều loại cá sống ở biển khác nhau. Nó có thể gây ra lưỡi của các cá phì đại. Các rối loạn ký sinh trùng khác gồm Gyrodactylus salaris, Ichthyophthirius multifiliis, cryptocaryon và bệnh velvet, Brooklynella hostilis, các lỗ trong đầu, Glugea, Ceratomyxa shasta, Kudoa thyrsites, Tetracapsuloides bryosalmonae, Cymothoa exigua, đĩa, sán lá, chấy và rận trên con cá hồi. Mặc dù, các ký sinh trùng nhìn chung được coi là có hại, việc loại bỏ những loại ký sinh trùng là không cần thiết. Các ký sinh trùng chiếm rất nhiều hơn một nửa đa dạng đời sống; chúng thực hiện những vai trò sinh thái quan trọng mà hệ sinh thái mất rất nhiều thời gian thích nghi, và nếu không có ký sinh trùng có thể dẫn đến sinh sản bị vô tính, làm giảm sự đa dạng dòng lưỡng hình giới tính. Các ký sinh trùng cung cấp một cơ hội cho chuyển dạng chất liệu di truyền giữa các loài với nhau. Hiếm hơn, nhưng có ý nghĩa, đôi khi điều này lại hỗ trợ sự thay đổi tiến hóa và ngược lại thì không xảy ra, hoặc mất nhiều thời gian hơn.

Ký sinh trùng trong cơ thể cá có lây nhiễm cho con người không?

Tổ chức Y Tế thế giới (TCYTTG) có ước lượng khoảng 40 triệu người trên thế giới đang bị nhiễm ký sinh trùng vì ăn cá sống hay không được nấu chín kĩ. Năm 2002, cấp lãnh đạo y tế Việt Nam cũng đưa ra và đã tuyên bố là có vào khoảng 5 triệu người Việt Nam  trong diện gặp nguy hiểm vì có tập quán ăn cá sống, trong số này có lối 500.000 người đã bị nhiễm ký sinh trùng giun sán từ cá (Reuters, 2002). Riêng tại Canada, sác xuất nhiễm ký sinh trùng từ các lát cá bán ra để làm sushi rất là thấp. Việc tiêu thụ các loại thủy hải sản sống hoặc nấu không thật chín lúc nào cũng vẫn là mối đe dọa cho sức khỏe con người.

Ds. Vũ Thị Thùy

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến