BÁO CÁO KHOA HỌC BỆNH SÁN DẢI SÁN DÂY

THỰC TRẠNG NHIỄM SÁN DẢI, SÁN DÂY, KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SÁN DÂY

TẠI PHÒNG KHÁM QUỐC TẾ ÁNH NGA CHUYÊN KHOA KÝ SINH TRÙNG

Đặng Thị Nga1, Nguyễn Ngọc Ánh1, Hoàng Minh Đô1, Nguyễn Đức Cường1

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thịt sống và thịt tái là món ăn khoái khẩu của người dân Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Nguyên nhân của bệnh sán dây là do con người ăn phải thịt chưa nấu chín có ấu trùng sán dây.

Đối tượng và phương pháp:Bệnh nhân đến khám, điều trị bệnh bệnh sán dây tại Phòng khám Ánh – Nga năm 2012. Ghi nhận các triệu chứng lâm sàng, soi phân và xét nghiệm số lượng bạch cầu ái toan (BCAT). Thuốc điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Kết quả: Có 78 đối tượng được nghiên cứu. 96,2% người bệnh ăn thịt bò tái. 3,8% ăn thịt khác và hải sản tái. Triệu chứng đau bụng chiếm 86%, mệt mỏi, ăn kém 90%, phân rối loạn 75%, nhột hậu môn 100%, đốt sán ra theo phân 100%, đốt sán tự bò chui ra ngoài hậu môn (96%). Tỷ lệ tăng BCAT 14%. Xét nghiệm phân: trứng sán dây (+)100%. 100% bệnh nhân đã chẩn đoán sán dây được sổ sán hoàn toàn.

Kết luận:Bệnh sán dây gặp ở những người ăn thịt tái, thịt sống với triệu chứng chính là đau bụng, mệt mỏi, ăn kém, phân rối loạn, nhột hậu môn, đốt sán ra theo phân, đốt sán tự bò chui ra ngoài hậu môn. Xét nghiệm phân có trứng sán dây.

Từ khóa: bệnh sán dây, Praziquantel, phở bò tái

1 Phòng khám Quốc tế Ánh Nga Chuyên khoa Ký Sinh trùng

BS. Đặng Thị Nga, ĐT:0912 444 663; Email: dangngahg@gmail.com

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ẩm thực với các món ăn chế biến từ thịt bò, thịt cừu, thịt dê, lợn… là sở thích của đa số người dân trên thế giới nhất là dân ở các nước phát triển, bên cạnh đó các nước đang phát triển còn gắn thêm phong tục ăn thịt bò tái, ăn sống. Con người nhiễm sán dây khi ăn phải thịt có kén sán chưa được nấu chín.

Ở nước ta, bệnh sán dây khá phổ biến. Vì nằm trong khu vực nhiệt đới nên điều kiện khí hậu thuận lợi cho mầm bệnh phát triển ở ngoại cảnh, cùng với ý thức vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường không đảm bảo và những tập quán sinh hoạt lạc hậu dẫn đến khả năng nhiễm ký sinh trùng càng cao. Viện Sốt rét-KST-CT TƯ điều tra từ 2006 đến 2010 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung ở các tỉnh điều tra là 34%. Bệnh sán dây và ấu trùng sán lợn được phát hiện tại 50 tỉnh thành trong cả nước (Nguyễn Mạnh Hùng, 2011)(2).

Thời gian đầu nhiễm sán dây triệu chứng thường không có gì đặc biệt. Dấu hiệu đầu tiên nhận biết là: thấy thỉnh thoảng có những cơn đau bụng lâm râm thoáng qua, hoặc cũng có thể đau bụng liên tục, nhất là khi bụng đói. Đã có trường hợp bệnh bị chẩn đoán nhầm là Viêm ruột thừa. Người mệt mỏi, không tập trung, hay quên. Sút cân. Đi ngoài phân có thể lỏng. Ngứa hoặc nhột ở hậu môn. Đêm ngủ hoặc khi tắm có đốt sán chui ra hậu môn. Xét nghiệm phân: có trứng sán dây (+), cũng có khi nhìn thấy cả đốt sán. ELISA: Sán dây bò (+).

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh sán dây ở những người nhiễm sán dây đến khám tại PK Ánh- Nga chuyên khoa Ký sinh trùng.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Mô tả một số đặc điểm, lâm sàng, kết quả xét nghiệm và điều trị của bệnh nhân nhiễm giun, sán.

– Tìm hiểu nguyên nhân

– Đánh giá sự hiểu biết về phòng bệnh của người bệnh tại điểm nghiên cứu.

3. PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT

3.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

– Thời gian thực hiện: 1 năm từ tháng 1/6/2012 đến 30/5/2013.

– Địa điểm: tại phòng khám Ánh Nga chuyên khoa Ký sinh trùng

– Đối tượng: Bệnh nhân đến khám tại phòng khám Ánh Nga chuyên khoa Ký sinh trùng.

BÁO CÁO KHOA HỌC BỆNH SÁN DẢI SÁN DÂY

Lưu mẫu sán dải bò tại phòng khám ký sinh trùng Ánh Nga

3.2. Thiết kế nghiên cứu

– Mô tả phân tích.

3.3. Các bước tiến hành

– Phỏng vấn khi bệnh nhân đến

– Thăm khám

– Ghi chép bệnh án

– Cận Lâm sàng:

+ Soi phân bằng phương pháp Kato-Katz và soi trực tiếp.

+ Xét nghiệm Công thức máu, đếm bạch cầu ái toan,

– Chẩn đoán

Thuốc điều trị:

Bảng 1: Phác đồ điều trị được áp dụng trong nghiên cứu

Cơ cấu bệnh

Phác đồ

Thuốc điều trị

Liều dùng

Sán dây

Bộ Y tế

Praziquantel 600mg

20mg/kg

– Theo dõi kết quả điều trị.

3.4. Chọn mẫu: 78 mẫu

3.5. Phân tích và xử lý dữ liệu: phần mềm thống kê Stata 3.02.

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm, dịch tễ bệnh KSTcủa đối tượng tham gia nghiên cứu.

Bảng 2: Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu.

Đặc tính

Số người

Tỷ lệ %

Đặc tính

Số người

Tỷ lệ %

Giới

Nam

72

92,3

Nghề nghiệp

Làm ruộng

9

11,5

Nữ

6

7,7

Trồng rừng

13

16,7

Tuổi

< 18 tuổi

0

0

Cán bộ VC

18

23,1

>= 18 tuổi

72

100

Công nhân

15

19,2

Dân tộc

Kinh

63

80,7

Nghề khác

23

29.5

Nhận xét:100% người bệnh đến khám và điều trị là người lớn > 18 tuổi, không có sự khác biệt nhiều về nghề nghiệp.

Bảng 3: Phân bố theo địa dư (N=78)

Địa chỉ

Số người

Tỷ lệ %

Địa chỉ

Số người

Tỷ lệ %

TP. HCM

18

23,1

Bình Phước

15

19,2

Bình Dương

7

9,0

Lâm Đồng

8

10,3

Cần Thơ

2

2,6

Ninh thuận

4

5,1

Đồng Nai

5

6,4

Tây Ninh

6

7,7

Vũng Tàu

4

5,1

Các tỉnh khác

9

11,5

Nhận xét: Đa số bệnh nhân nhiếm giun sán tìm đến Phòng khám Ánh – Nga là do các bác sỹ ở các bệnh viện hoặc cán bộ y tế ở các tỉnh, huyện giới thiệu đến, bệnh rải rác ở các tỉnh và thành phố. Trong đó có bệnh nhân sống tại nước ngoài: Malaysia, Singapore,…cũng về đây điều trị.

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh nhiễm KSTĐR

Bảng 4: Tỷ lệ (%) xuất hiện triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Triệu chứng

Số người có triệu chứng

Tỷ lệ

Đau bụng

72

92,3

Người mệt mỏi, không tăng cân

78

100

Không tập trung, hay quên

78

100

Sút cân

36

46,2

Đi ngoài phân có thể lỏng

54

69,2

Ngứa hoặc nhột ở hậu môn

76

97,4

Đốt sán chui ra hậu môn, hoặc có trong phân

78

100

Xét nghiệm phân: có trứng sán dây (+), nhìn thấy đốt sán.

78

100

Xét nghiệm BCAT tăng

5

6,4

Nhận xét:Tỷ lệ người nhiễm sán không tập trung, người mệt mỏi là 100%. Đau bụng là 92,3%, cũng có người không có biểu hiện đau bụng. Biểu hiện ngứa hậu môn xuất hiện ở đa số bênh nhân (97,4%). Đặc biệt là 100% người bệnh có đốt sán chui ra hậu môn xà xét nghiệm có trứng sán dây trong phân.

3. Kết quả điều trị

– 78 (100%) bệnh nhân được sổ sán

– Soi phân sau điều trị: tỷ lệ sạch trứng sán dây là 100%

Một số hình ảnh xổ sán dây tại Phòng Khám Quốc tế Ánh Nga

BÁO CÁO KHOA HỌC BỆNH SÁN DẢI SÁN DÂY BÁO CÁO KHOA HỌC BỆNH SÁN DẢI SÁN DÂY
Hình ảnh sán dây sau khi sổ sán tại Phòng khám Quốc tế Ánh Nga Một phần con sán dây
BÁO CÁO KHOA HỌC BỆNH SÁN DẢI SÁN DÂY BÁO CÁO KHOA HỌC BỆNH SÁN DẢI SÁN DÂY
Sán dây bò dài khoảng 12 mét BS Nga kiểm tra đốt sán sau khi điều trị bằng phương pháp xổ sán bắt nguyên con

4. Nhận thức của người bệnh về sán dây

Bảng 7: Hiểu biết về bệnh KSTĐR

STT

Nội dung nhận thức

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

1

Biết nguyên nhân gây bệnh sán dây

43

55,1

2

Đã đi điều trị nhiều nơi (kể cả bệnh viện và các phòng khám tư nhân không phải chuyên khoa ký sinh trùng) không khỏi bệnh.

28

35,9

3

Đã tự mua thuốc tẩy giun uống nhiều lần không khỏi bệnh.

42

53,8

4

Ăn thịt bò tái

75

96,2

5

Ăn thịt tái, sống khác

3

3,8

Nhận xét: Người bệnh đa số mắc sán sau khi ăn thịt bò hoặc phở bò tái. Khi phát hiện sán chui ra hậu môn thì tự ra quầy dược mua thuốc điều trị, thuốc mà các dược sỹ hay cho bệnh nhân dùng là: Zentel, Piza, Fugaca… đều chưa phải là thuốc đặc trị bệnh sán dây. Sau khi dùng thuốc, sán có thể tạm thời không chui ra một thời gian. Vài tuần đến vài tháng sau đốt sán lại tiếp tục xuất hiện làm cho tâm lý người bệnh rất hoang mang.

5. BÀN LUẬN

5.1.Về yếu tố dịch tễ

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số bệnh nhân nhiễm sán dây tìm đến Phòng khám với số lượng ít. Bởi thực tế tại thời điểm nghiên cứu, bệnh ký sinh trùng là bệnh bị lãng quên bấy lâu nay. Ở khu vực phía Nam nói chung và TP HCM nói riêng chỉ mới có duy nhất một phòng khám Ánh – Nga là phòng khám tư nhân đầu tiên chuyên điều trị về bệnh ký sinh trùng. Với các bác sỹ từng làm việc tại Viện SR- Ký sinh trùng – Côn trùng Trung Ương.

Bệnh xuất hiện chủ yếu ở người lớn và ở rải rác các tỉnh thành, không phân biệt nông thôn hay thành thị.

5.2.Về triệu chứng lâm sàng

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy triệu chứng chính của bệnh sán dây là đau bụng (92,3% ). Người mệt mỏi, không tập trung, hay quên (100%). Sụt cân (46,2%). Đi ngoài phân có thể lỏng (69,2% ). Ngứa hoặc nhột ở hậu môn ( 97,4%). Đêm ngủ hoặc khi tắm có đốt sán chui ra hậu môn ( 100%).

5.3.Về triệu chứng cận lâm sàng

Xét nghiệm phân: có trứng sán dây (+) ( 100%), cũng có khi nhìn thấy cả đốt sán.

5.4.Về điều trị

– 78 (100%) bệnh nhân được sổ sán

– Soi phân sau điều trị: tỷ lệ sạch trứng sán dây là 100%

Thực tế có nhiều người bệnh đã tự dùng thuốc không đúng hoặc cũng có người đi điều trị nhiều nơi không khỏi. Những trường hợp này liều lượng thuốc sẽ cần thay đổi và thời gian điều trị cũng lâu hơn tùy theo thực trạng từng bệnh nhân.

5.5. Nhận thức của nguời nhiễm sán

Tỷ lệ nhận thức đúng về nguyên nhân gây bệnh cao nhưng do sở thích ăn uống nên nhiễm sán. Bên cạnh đó cũng còn nhiều người không biết được tác hại của việc ăn thịt tái thịt sống. Còn có quan niệm cho rằng ăn thịt tái sẽ bổ dưỡng hơn, mà không biết tới tác hại mắc phải.

6. KẾT LUẬN

– Phòng khám Ánh- Nga với các bác sỹ chuyên khoa ký sinh trùng trực tiếp làm việc. Bệnh nhân nhiễm giun sán chưa biết tìm đến đúng địa chỉ để điều trị chuyên khoa.

– Triệu chứng lâm sàng chính của của người nhiễm sán dây là đau bụng ( 92,3%). Người mệt mỏi, không tập trung, hay quên. Sụt cân (46,2% ). Đi ngoài phân có thể lỏng (69,2% ). Ngứa hoặc nhột ở hậu môn (97,4% ). Đêm ngủ hoặc khi tắm có đốt sán chui ra hậu môn (100% ).

– Cận lâm sàng: có trứng sán dây (+) ( 100%), cũng có khi nhìn thấy cả đốt sán.

– Sau điều trị 78 (100%) bệnh nhân được sổ sán.

– Soi phân sau điều trị: tỷ lệ sạch trứng sán dây là 100%.

Chủ nhiệm đề tài: BS. Đặng Thị Nga

PHÒNG KHÁM CHUYÊN KHOA KST SÀI GÒN
CHUYÊN GIA VỀ NGỨA VÀ GIUN SÁN
ĐC: 402 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP. HCM
ĐT. 028 38 30 23 45 – Lịch khám bệnhBản đồ
Hoặc Tổng đài: 0281080

Tin Liên Quan

Hỗ trợ trực tuyến

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ

028 38 30 23 45

Gọi điện SMS Liên hệ