Cơ chế, hậu quả, cách phát hiện ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Xem: 67 | Cật nhập: 2/10/2019 3:20:01 PM | RSS

Ký sinh trùng sốt rét cần hai men DHPR (dihydrofolate reducctase) và DHPS (dihydropteroate synthetase) trong chu trình biến dưỡng tạo ra acid folic để sống còn. Các thuốc như sulfadoxine, pyrimethamine và proguanil (cycloguanil) ức chế các men DHFRNvà DHPS này, hậu quả là ký sinh trùng bị tiêu diệt.

Ký sinh trùng sẽ kháng lại với các thuốc trên bằng một sự đột biến nơi gen mã hóa tạo DHFR, DHPS làm các thuốc này không gắn vào DHFR, DHPS được và do đó mất tác dụng đối với ký sinh trùng.

Còn chloroquine thì được nối với một hay nhiều glycoprotein chuyên chở (P-glycoprotein) nằm ở màng không bào tiêu hóa của ký sinh trùng và làm chloroquine bị thải nhanh ra khỏi ký sinh trùng, không tích tụ đủ nồng độ để gây độc.

Ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc gây hậu quả gì?

Nếu mức độ kháng thuốc thấp và tỷ lệ mắc sốt rét thấp thì hậu quả của sự kháng thuốc không thể hiện rõ. Khi được điều trị thì các triệu chứng bệnh sẽ hết và bệnh nhân sẽ khỏe trong một thời gian vài tuần.

Nhưng sau đó các triệu chứng bệnh tái xuất hiện, thường là sau hơn 2 tuần, thiếu máu nặng hơn và bệnh nhân thường mang giao bào. Tuy nhiên bệnh nhân và thầy thuốc thường cho là bị mắc bệnh lại lần thứ hai (tái nhiễm).

Trong giai đoạn này nếu không đánh giá hiệu lực của thuốc thì sẽ không phát hiện được kháng thuốc. Dần dần mức độ kháng thuốc sẽ nặng hơn và khoảng cách giữa khi khỏi bệnh và lúc bệnh tái phát ngày càng ngắn hơn.

Lúc này tỷ lệ mắc mới sốt rét trong khu vực sẽ tăng và bệnh có nguy cơ tử vong nhiều hơn.

Phát hiện ký sinh trùng kháng thuốc sốt rét bằng cách nào?

Trước đây, khi đánh giá hiện tượng kháng thuốc, người ta chỉ quan tâm đến sự thay đổi của số lượng ký sinh trùng trong máu dưới tác dụng của thuốc sốt rét (quan hệ ký sinh trùng - thuốc sốt rét), thể hiện qua bốn mức độ: nhạy (S), kháng độ I (R1), kháng độ II và kháng độ III.

Hiện nay để phát hiện kháng thuốc, người ta đánh giá hiệu lực điều trị của thuốc sốt rét có xem xét đến diễn biến lâm sàng và mật độ ký sinh trùng sốt rét, thể hiện qua ba kết quả theo dõi: điều trị thất bại sớm (ETF), điều trị thất bại muộn (LTF) và đáp ứng tốt về lâm sàng và ký sinh trùng (ACPR).

Theo dõi hiệu lực điều trị của thuốc sốt rét là một nội dung quan trọng trong công tác phòng chống sốt rét, làm cơ sở cho việc chọn lực phác đồ điều trị cũng như cho việc phát triển, sửa đổi chính sách quốc gia về thuốc sốt rét.

Việc đánh giá hiệu lực thuốc sốt rét cần được thực hiện tại từng quốc gia có lưu hành bệnh và có tính thường xuyên tại những điểm sentinel.

Ngoài việc đánh giá hiệu lực điều trị của thuốc sốt rét về mặt lâm sàng và ký sinh trùng (kỹ thuật in vivo), người ta còn đánh giá sự thay đổi trong nhạy cảm cùa ký sinh trùng đối với thuốc sốt rét (kỹ thuật in vitro) cũng như phát hiện những đột biến ở gen (chỉ thị phân tử).